Theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014, con sinh ra từ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là con chung của vợ chồng nhờ mang thai hộ kể từ thời điểm được sinh ra. Vì vậy trên giấy khai sinh, cha mẹ là vợ chồng nhờ mang thai hộ, không phải người đã mang thai và sinh con. Hồ sơ khai sinh ngoài giấy chứng sinh còn phải có văn bản chứng minh việc mang thai hộ theo đúng quy định.
Mang thai hộ ở Việt Nam chỉ hợp pháp khi vì mục đích nhân đạo, giữa những người có quan hệ thân thích nhất định, có thoả thuận bằng văn bản và thực hiện tại cơ sở y tế được phép. Bài này giải thích những gì cần có trong tay trước ngày sinh, cách điền tờ khai, và các tình huống lệch như bên mang thai hộ không chịu giao con hay vợ chồng nhờ đổi ý.
Vì sao người sinh con không đứng tên mẹ
Thông thường, người phụ nữ sinh ra đứa trẻ được xác định là mẹ. Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là ngoại lệ do luật đặt ra: noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng được thụ tinh trong ống nghiệm, phôi được cấy vào tử cung của một người phụ nữ khác mang thai giúp. Đứa trẻ về mặt di truyền là con của cặp vợ chồng, và luật công nhận điều đó ngay khi trẻ ra đời.
Hệ quả trực tiếp trên hộ tịch: tờ khai khai sinh ghi thông tin người vợ trong cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ ở ô mẹ, người chồng ở ô cha. Người mang thai hộ không có tên trên trích lục khai sinh của trẻ. Quan hệ giữa họ với đứa trẻ được điều chỉnh bằng thoả thuận và quy định về quyền, nghĩa vụ của các bên, chứ không bằng quan hệ mẹ con.
Cần phân biệt với trường hợp vợ chồng tự sinh con bằng thụ tinh trong ống nghiệm, người vợ tự mang thai. Khi đó không có yếu tố mang thai hộ, hồ sơ khai sinh như ca thông thường, không cần thêm văn bản nào về kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.
Điều kiện để việc mang thai hộ được công nhận
Chỉ vì mục đích nhân đạo. Luật cấm mang thai hộ vì mục đích thương mại, tức là trả tiền hoặc lợi ích để đổi lấy việc mang thai. Bên nhờ chỉ được hỗ trợ các chi phí hợp lý cho việc chăm sóc sức khoẻ sinh sản. Tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại có thể bị xử lý hình sự.
Bên nhờ mang thai hộ. Là cặp vợ chồng có xác nhận của tổ chức y tế rằng người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, đang không có con chung, và đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.
Bên mang thai hộ. Là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng, đã từng sinh con, chỉ được mang thai hộ một lần, ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận y tế về khả năng mang thai hộ. Nếu người mang thai hộ có chồng thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của người chồng.
Thoả thuận bằng văn bản. Hai bên lập thoả thuận về mang thai hộ, có công chứng, ghi rõ quyền và nghĩa vụ, việc chăm sóc sức khoẻ, việc giao nhận con, trách nhiệm khi có rủi ro. Thoả thuận phải đúng nội dung luật định, không được trái với nguyên tắc nhân đạo.
Thực hiện tại cơ sở được phép. Việc sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm để mang thai hộ chỉ được làm tại cơ sở y tế được cơ quan y tế có thẩm quyền cho phép. Hồ sơ và kết luận chuyên môn của cơ sở đó là một phần căn cứ chứng minh việc mang thai hộ hợp pháp.
Hồ sơ khai sinh cho con mang thai hộ
Danh mục dưới đây là khung thường gặp. Tên gọi và mẫu cụ thể nên đối chiếu với cán bộ tư pháp – hộ tịch nơi nộp trước ngày dự sinh.
| Giấy tờ | Nội dung | Ai chuẩn bị |
|---|---|---|
| Tờ khai đăng ký khai sinh | Ghi vợ chồng nhờ mang thai hộ ở phần cha, mẹ | Vợ chồng nhờ mang thai hộ |
| Giấy chứng sinh | Ngành y tế có mẫu dành cho trường hợp mang thai hộ; hỏi bệnh viện trước ngày sinh để được cấp đúng mẫu | Cơ sở y tế nơi sinh |
| Văn bản chứng minh việc mang thai hộ | Thoả thuận mang thai hộ đã công chứng, cùng giấy tờ y tế liên quan theo quy định | Hai bên và cơ sở y tế thực hiện kỹ thuật |
| Giấy chứng nhận kết hôn của vợ chồng nhờ | Chứng minh quan hệ hôn nhân để ghi tên cha | Vợ chồng nhờ mang thai hộ |
| Giấy tờ tuỳ thân | Căn cước của người đi khai | Người đi khai |
| Nơi nộp | UBND cấp xã nơi cư trú của cha hoặc mẹ là vợ chồng nhờ mang thai hộ | Nộp trực tiếp hoặc trực tuyến nếu được hỗ trợ |
Thời hạn khai sinh vẫn là sáu mươi ngày kể từ ngày sinh. Vì hồ sơ có thêm giấy tờ, nên chuẩn bị sẵn bản sao thoả thuận đã công chứng ngay từ khi mang thai, đừng để tới lúc trẻ chào đời mới đi tìm.
Chuẩn bị theo thời gian để không lỡ việc khai sinh
Các mốc dưới đây giúp hai bên phối hợp nhịp nhàng:
- Trước khi cấy phôi: hoàn tất tư vấn, xác nhận y tế, thoả thuận mang thai hộ có công chứng; mỗi bên giữ một bản.
- Trong thai kỳ: lưu giữ hồ sơ khám thai do cơ sở y tế cấp, thống nhất nơi sinh và người có mặt khi sinh.
- Trước ngày dự sinh: hỏi phòng hành chính của bệnh viện về mẫu giấy chứng sinh cho trường hợp mang thai hộ.
- Ngay sau khi sinh: kiểm tra giấy chứng sinh ghi đúng thông tin cả người sinh lẫn vợ chồng nhờ mang thai hộ.
- Giao nhận con theo thoả thuận; nên lập biên bản giao nhận có chữ ký hai bên.
- Vợ chồng nhờ mang thai hộ nộp hồ sơ khai sinh tại UBND cấp xã trong thời hạn sáu mươi ngày.
- Soát trích lục khai sinh: ô cha, mẹ là vợ chồng nhờ mang thai hộ, họ và dân tộc của con theo thoả thuận của vợ chồng.
Việc liên thông đăng ký thường trú và cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ đi theo nơi cư trú của vợ chồng nhờ mang thai hộ, không theo nơi ở của người mang thai hộ.
Khi một bên đổi ý: không giao con hoặc không nhận con
Luật đặt nghĩa vụ rõ cho cả hai phía. Bên mang thai hộ có nghĩa vụ giao đứa trẻ cho bên nhờ; nếu chậm giao hoặc không giao, bên nhờ có quyền yêu cầu toà án buộc giao con. Bên nhờ mang thai hộ không được từ chối nhận con, kể cả khi trẻ sinh ra có dị tật hay bệnh lý; nếu chậm nhận, họ vẫn phải thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng.
Trong khoảng thời gian chưa giao nhận, ai đi khai sinh là câu hỏi thực tế. Theo nguyên tắc, cha mẹ của trẻ là vợ chồng nhờ mang thai hộ nên họ là người đi khai. Nếu tranh chấp kéo dài quá thời hạn khai sinh, quyền được khai sinh của đứa trẻ không bị đình lại vì bất đồng của người lớn. Các bên nên trao đổi với UBND cấp xã để tìm cách đăng ký kịp, đồng thời giải quyết tranh chấp bằng thương lượng hoặc toà án.
Những ca này thường kéo theo nhiều câu hỏi về chi phí đã hỗ trợ, sức khoẻ người mang thai hộ sau sinh, quyền thăm nom. Đây là phần nên có người làm nghề luật tư vấn trực tiếp dựa trên chính thoả thuận đã ký, vì mỗi văn bản có điều khoản khác nhau.
Người mang thai hộ sau khi sinh: quyền lợi cần nhớ
Chăm sóc sức khoẻ sau sinh. Thoả thuận mang thai hộ thường ghi rõ bên nhờ hỗ trợ chi phí khám, sinh và hồi phục cho người mang thai hộ. Đây là chi phí hợp lý được luật cho phép, khác với tiền công trả cho việc mang thai. Hãy giữ chứng từ để hai bên đối chiếu khi cần.
Chế độ thai sản. Pháp luật bảo hiểm xã hội có quy định riêng về chế độ thai sản cho lao động nữ mang thai hộ và cho người mẹ nhờ mang thai hộ khi đáp ứng điều kiện đóng bảo hiểm. Thời gian nghỉ và mức hưởng cụ thể nên hỏi cơ quan bảo hiểm xã hội hoặc bộ phận nhân sự nơi làm việc, vì điều kiện chi tiết đã được sửa đổi.
Quyền được thông tin về đứa trẻ. Luật không biến người mang thai hộ thành mẹ của trẻ, nhưng hai bên thường là họ hàng thân thích, nên chuyện gặp gỡ, thăm nom là thoả thuận giữa các gia đình. Nên nói chuyện thẳng thắn từ trước để tránh tổn thương về sau.
Không có nghĩa vụ nuôi dưỡng. Sau khi giao con, người mang thai hộ không có nghĩa vụ cấp dưỡng hay nuôi dưỡng đứa trẻ. Mọi nghĩa vụ đó thuộc về vợ chồng nhờ mang thai hộ, kể cả khi họ ly hôn hay gặp khó khăn kinh tế.
Những vướng mắc hay gặp tại quầy hộ tịch
Từ phía cán bộ hộ tịch, các hồ sơ mang thai hộ thường bị dừng lại vì:
- Giấy chứng sinh cấp theo mẫu thông thường thay vì mẫu dành cho mang thai hộ, không khớp với hồ sơ mang thai hộ.
- Không mang theo thoả thuận mang thai hộ đã công chứng, chỉ có giấy viết tay giữa hai gia đình.
- Người mang thai hộ không thuộc diện người thân thích cùng hàng theo luật, nên không chứng minh được tính hợp pháp.
- Vợ chồng nhờ mang thai hộ đã ly hôn trong thai kỳ, không thống nhất ai đi khai và con mang họ ai.
- Mang thai hộ thực hiện ở nước ngoài, giấy tờ nước ngoài chưa được hợp pháp hoá lãnh sự và dịch.
- Gia đình tưởng có thể khai sinh trẻ là con của người sinh rồi sau này "chuyển" sang vợ chồng nhờ.
Ý cuối cùng là một hiểu lầm nguy hiểm: khai người sinh là mẹ rồi làm thủ tục nhận con nuôi nghe có vẻ đơn giản, nhưng nó tạo ra một hồ sơ hộ tịch không đúng sự thật và có thể bị xem là lách quy định cấm mang thai hộ thương mại. Nếu việc mang thai hộ không đáp ứng điều kiện luật định, hãy hỏi chuyên gia pháp lý trước khi tính bất cứ phương án nào.
Câu hỏi thường gặp
Người mang thai hộ có được ghi tên trên giấy khai sinh không?
Không. Khi việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đáp ứng điều kiện luật định, cha mẹ của trẻ là vợ chồng nhờ mang thai hộ kể từ thời điểm sinh ra. Trích lục khai sinh chỉ ghi tên họ. Thông tin về người sinh nằm trong giấy chứng sinh và hồ sơ mang thai hộ.
Nhờ bạn thân mang thai hộ có được không?
Theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014, người mang thai hộ phải là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ, như chị em ruột, chị em họ cùng hàng. Bạn thân không có quan hệ thân thích thì không đáp ứng điều kiện, và cơ sở y tế được phép sẽ không thực hiện.
Mang thai hộ ở nước ngoài về Việt Nam khai sinh được không?
Nếu trẻ sinh ở nước ngoài và đã có giấy khai sinh nước ngoài, việc ghi vào sổ hộ tịch Việt Nam theo thủ tục ghi chú, kèm giấy tờ được hợp pháp hoá lãnh sự. Tuy nhiên, việc mang thai hộ thương mại theo pháp luật nước ngoài không được pháp luật Việt Nam công nhận; trường hợp này nên hỏi luật sư trước khi nộp.
Con mang thai hộ mang họ ai?
Con là con chung của vợ chồng nhờ mang thai hộ nên họ của con được xác định theo thoả thuận của hai vợ chồng, có thể theo họ cha hoặc họ mẹ như mọi trường hợp khác. Không có quy định cho phép con mang họ của người mang thai hộ.
Nếu trẻ sinh ra bị dị tật, vợ chồng nhờ có được từ chối nhận con không?
Không. Luật quy định bên nhờ mang thai hộ không được từ chối nhận con. Đứa trẻ là con của họ từ thời điểm sinh ra, với đầy đủ quyền được khai sinh, được nuôi dưỡng, chăm sóc. Việc từ chối có thể dẫn tới tranh chấp và yêu cầu toà án buộc thực hiện nghĩa vụ.
Vợ chồng nhờ mang thai hộ ly hôn trước khi con sinh ra thì khai sinh thế nào?
Đứa trẻ vẫn là con chung của hai người theo luật. Họ cần thống nhất ai đi khai, họ và dân tộc của con; không thống nhất được thì phát sinh tranh chấp cần giải quyết theo thủ tục chung về nuôi con sau ly hôn. Quyền được khai sinh của trẻ không phụ thuộc vào việc cha mẹ còn hôn nhân hay không.